Câu chuyện nhà máy Nhiệt Điện Long Phú 1

Tác giả: Trần Bảo

Đôi khi có những độc giả gửi đến những bài viết của họ và nhờ đăng. Không phải bài nào mình cũng đăng, có những bài chỉ vì người viết họ công phu, tâm huyết nhiều quá. Đọc xong, không nỡ không đăng, cho dù bài viết không phải đề tài hay không trùng quan điểm của mình.

Ví dụ như loạt bài viết dưới đây về nhà máy Nhiệt Điện Long Phú 1 của một tác giả vô danh.

 

Bài 1: Luật đấu thầu xung đột với văn bản của Đảng, ông Đinh La Thăng gánh tội. Lãnh đạo PVC đã gánh tội nhưng Nhiệt điện Thái Bình đã về đích, còn Nhiệt điện Long Phú giờ sao?

Gia nhập WTO ban hành Luật Đấu thầu chặn đường doanh nghiệp Việt: Trong một phát biểu gần đây, Tổng Bí thư Tô Lâm đã thẳng thắn chỉ ra những bất cập của Luật Đấu thầu hiện hành, đặc biệt trong việc lựa chọn nhà thầu cho các dự án lớn. Ông nhấn mạnh rằng, luật này cần được xem xét, sửa đổi bởi trong nhiều trường hợp, việc tuân thủ cứng nhắc các quy định về đấu thầu đã dẫn đến hậu quả là mua phải hàng hóa kém chất lượng. Ông thậm chí còn cho rằng Luật đấu thầu có tội nặng lắm. Tội chậm tiến độ phát triển, chậm công trình, chất lượng kém, tội hư hỏng, mất cán bộ và không tiết kiệm. Những tội được kể ra càng rõ nét hơn trong các dự án có quy mô lớn, khi mà giá rẻ và tiến độ lại lấn át tiêu chí chất lượng, gây ra những hệ lụy lâu dài và khó lường.

Một câu hỏi lớn được đặt ra là: Làm thế nào để bảo vệ các nhà thầu Việt Nam, nuôi dưỡng các doanh nghiệp Việt Nam còn non trẻ, vốn đang đối mặt với những thách thức về năng lực, kinh nghiệm và sức cạnh tranh và một cuộc thảm sát thực sự đến từ các nhà thầu nước ngoài? Đặc biệt là các hàng hóa và nhà thầu đến từ Trung quốc có hàng hóa giá rẻ, chất lượng thấp, đang tràn vào thị trường, nếu không có các biện pháp chủ động, các doanh nghiệp Việt sẽ ngày càng bị đè bẹp và đánh mất thị phần ngay trên sân nhà. Hơn 15 năm trước Trung ương Đảng đã họp và ban hành kết luận 264 để hướng tới giải quyết vấn đề này.

Kết luận 264 và tinh thần “trao cơ hội để lớn mạnh”: Để khuyến khích phát triển sản xuất trong nước, nâng cao nội lực của các doanh nghiệp Việt, Trung Ương Đảng đã họp và ban hành Kết luận 264-TB/TW, Kết luận này hướng người Việt Nam ưu tiên sử dụng hàng Việt Nam. Mục tiêu cốt lõi là khơi dậy lòng tự hào dân tộc, khuyến khích người Việt Nam ưu tiên sử dụng hàng Việt Nam, thông qua đó tăng nhu cầu tiêu thụ sản phẩm sản xuất trong nước, hình thành nhiều động lực cho các doanh nghiệp trong nước đầu tư sản xuất và nâng cao chất lượng sản phẩm, dịch vụ, tạo nguồn cung, từ đó giúp các doanh nghiệp nội lớn mạnh để có thể cạnh tranh sòng phẳng với các doanh nghiệp nước ngoài trên cả thị trường trong nước và quốc tế. Phải đánh giá chính xác thì đây là một chủ chương đúng của Đảng. Tuy nhiên trong quá trình thực thi chủ trương này, nhiều vấn đề nan giải đã nảy sinh.

Đây không là một kết luận chủ quan mà dựa trên kinh nghiệm quốc tế: Giai đoạn này Việt Nam đã nghiên cứu nhiều mô hình thành công của các nước trên thế giới, đặc biệt mô hình Hàn Quốc được cho là khá phù hợp với Việt Nam. Việc nuôi dưỡng nhà thầu trong nước thông việc xây dựng đường cao tốc của Park Chung Hee giúp tạo nền tảng cho những tập đoàn công nghiệp hình thành và phát triển. Park là một tổng thống đã đặt nền móng để tạo nên bước ngoặt cho “kỳ tích sông Hàn”. Ông Park đã quyết định giao cho các nhà thầu trong nước xây dựng hệ thống đường cao tốc của Hàn Quốc, ban đầu rất nhiều người nghi ngờ quyết định này, nhưng các nhà thầu trong nước đã chứng tỏ mình bằng giá rẻ, chất lượng cao, ngay cả khi họ chưa làm điều đó bao giờ. Điều này được thể hiện trong hồi ký của chủ tịch Hyundai một trong những doanh nghiệp được giao xây dựng con đường này. Ông chủ của Hyundai đã nỗ lực thử và sai bao nhiêu lần để cuối cùng mới chặn được dòng nước xoáy để làm con đường này thành công. Từ kinh nghiệm này Hyundai lớn mạnh và Hàn Quốc có một tập đoàn kinh tế lớn. Cá ctập đoàn kinh tế này họ gọi là Cheabol ra đời. Họ nhanh chóng vươn tầm và tham gia đấu thầu và thắng thầu quốc tế giúp họ trưởng thành và mang ngoại ngoại tệ về trong nước để giúp nền kinh tế Hàn Quốc nhập khẩu máy móc thiết bị hiện đại và cất cánh.

Việc chỉ định thầu ở hiện tại cũng vừa được Thủ tướng Phạm Minh Chính tái hiện khi giao cho PVN và EVN mỗ tập đoàn làm 1 nhà máy điện hạt nhân: Bài học “giao nhiệm vụ để học và làm chủ” không chỉ thể hiện ở ông Thăng, mà còn là chủ trương nhất quán của Chính phủ trong nhiều quyết định sau này. Ví dụ điển hình là việc giao Tập đoàn Dầu khí và Tập đoàn Điện lực làm chủ đầu tư các dự án điện hạt nhân – một lĩnh vực cực kỳ phức tạp và đòi hỏi trình độ kỹ thuật cao mà bản thân các Tập đoàn này cũng chưa làm bao giờ. Điểm khác biệt là khi đó, ông Thăng chỉ là người đứng đầu tập đoàn kinh tế nhà nước và áp dụng một kết luận của Đảng, còn hiện nay, việc giao nhiệm vụ lại được thực hiện bởi Thủ tướng Chính phủ, với sự cho phép và thể chế hóa bằng một Nghị quyết Quốc hội. Đây là một bước tiến thể chế, thể hiện quyết tâm chính trị cao trong việc nội địa hóa năng lực, nhưng cũng là một lỗ hổng tiềm ẩn nhiều rủi ro pháp lý nếu chưa được “luật hóa” đầy đủ.

Việc các lãnh đạo sử dụng Nghị quyết của Quốc hội hay Nghị quyết Đảng khi chưa có quy định trong luật thực sự là con dao hai lưỡi: Việc sử dụng Nghị quyết của Quốc hội để cho phép Thủ tướng thực hiện những quyền hạn đặc biệt trong khi Luật chưa quy định rõ ràng là một hướng đi linh hoạt, đáp ứng yêu cầu thực tiễn, đặc biệt trong bối cảnh kinh tế cần được dẫn dắt mạnh mẽ. Tuy nhiên, nếu không được kiểm soát và giám sát chặt chẽ, điều này có thể trở thành một tiền lệ nguy hiểm, gây ra sự mâu thuẫn giữa luật và nghị quyết, làm suy yếu tính nghiêm minh của hệ thống pháp luật. Luật là khung nền tảng cho sự ổn định và minh bạch. Khi những quyền hạn quan trọng được thực hiện mà thiếu cơ sở pháp lý rõ ràng, sẽ dễ dẫn tới tình trạng lạm quyền, thiếu trách nhiệm giải trình, và tạo ra kẽ hở cho những quyết định tùy tiện. Đặc biệt trong các dự án lớn, có nguy cơ rủi ro tài chính, kỹ thuật và cả tác động xã hội, việc “đi trước luật” cần phải được cân nhắc rất kỹ lưỡng và có lộ trình minh bạch để luật hóa trong thời gian gần nhất.

Thực hiện theo tinh thần của Đảng, ông Đinh La Thăng vào tù. Quay lại thời điểm Kết luận 264 được ban hành, ông Đinh La Thăng khi ấy giữ cương vị Bí thư Đảng ủy, Chủ tịch Hội đồng Thành viên Tập đoàn Dầu khí Quốc gia Việt Nam. Ông mang tính cách của một bí thư đoàn, rất quyết liệt và chủ động trong việc thực hiện tinh thần của kết luận này. Trong cùng thời gian đó đất nước cần điện để phát triển nhưng rất nhiều dự án phát điện được giao cho EVN nhưng EVN thiếu vốn không triển khai được, trong khi PVN có nguồn tiền thặng dư dồi dào do giá dầu tăng phi mã. Tập đoàn Dầu khí Quốc gia Việt Nam quyết định xung phong nhận nhiệm vụ xây các nhà máy nhiệt điện. Để áp dụng kết luận 264 ông Thăng quyết định chỉ định thầu rất nhiều dự án cho các nhà thầu trong nước trong đó có các dự án nhiệt điện Thái Bình 2 và Long Phú 1 cho hai nhà thầu trong nước là Tổng công ty Xây lắp Dầu khí (PVC) và Công ty Cổ phần Dịch vụ Kỹ thuật Dầu khí Việt Nam (PTSC).

Thay vì tổ chức đấu thầu quốc tế, ông Thăng chọn cách giao thẳng cho các doanh nghiệp xây lắp mạnh của Tập đoàn Dầu khí trong nước, là Tổng công ty Xây lắp Dầu khí (PVC) và Công ty Cổ phần Dịch vụ Kỹ thuật Dầu khí Việt Nam (PTSC) – mặc dù những doanh nghiệp này chưa từng có kinh nghiệm làm tổng thầu xây dựng nhà máy nhiệt điện. Quyết định này, thoạt nhìn, có thể bị đánh giá là đi ngược lại nguyên tắc minh bạch, cạnh tranh công bằng. Tuy nhiên, nó cũng phản ánh rõ tính cách của ông Thăng: một người có tinh thần dân tộc, hành động quyết liệt và sẵn sàng chấp nhận rủi ro để đạt mục tiêu dài hạn – mục tiêu của Ông trong trường hợp này là bảo vệ và nâng tầm doanh nghiệp trong nước, giúp họ có cơ hội thực chiến, tích lũy kinh nghiệm và từng bước vươn lên cạnh tranh với nhà thầu quốc tế như mô hình của Hyundai

Tuy nhiên sau khi nhận thầu, PVC nhận tạm ứng, ông Trịnh Xuân Thanh lại mang nguồn vốn này đi trang trải cho các khoản nợ của PVC, thậm chí còn có ý kiến cho rằng ông Thanh đã dùng tiền đó để tiêu dùng cá nhân, xây biệt thự…. Và cuối cùng ông Thăng đã phải chịu trách nhiệm hình sự trong việc để thất thoát lãng phí tại dự án nhiệt điện Thái Bình 2 mà PVC là tổng thầu xây lắp. Còn với PTSC khi được giao thầu thi công nhà máy nhiệt điện Long Phú 1 thì vẫn loay hoay chưa biết làm thế nào để hoàn thành.

Suy cho cùng thì không nên sử dụng Nghị quyết của Đảng như là cơ sở pháp lý thực hiện mà điều quan trọng là phải xây dựng một cơ sở pháp lý rõ ràng, minh bạch, một hệ thống đấu thầu giúp sàng lọc các nhà thầu kém chất lượng, khi đó sẽ tạo điều kiện cho các doanh nghiệp Việt Nam dù còn non kinh nghiệm vẫn có cơ hội phát triển năng lực cạnh tranh nếu họ thực sự muốn làm ăn nghiêm túc và quyết tâm vươn tầm.

Rõ ràng cần ưu tiên tuân thủ pháp luật hơn là tuân thủ nghị quyết của Đảng, hay nói khác đi vì một Kết luận 264 đã chậm thể chế thành luật đã khiến ông Thăng phải đi tù. Ông Thăng đã nhiệt tình thực hiện một nghị quyết của Đảng trong khi không tuân thủ pháp luật và buộc phải chịu hậu quả.

Mặc dù các cá nhân lãnh đạo PVC tham gia ký kết và thực thi hợp đồng xây dựng nhà máy nhiệt điện Thái Bình 2 đã chịu trách nhiệm trước pháp luật tuy vậy nhiệt điện Thái Bình 2 đã hòa lưới điện quốc gia. Còn nhiệt điện Long Phú vẫn là một đống thép ngổn ngang, chưa biết khi nào hoàn thành và cũng chưa có ai chịu trách nhiệm cho những lãng phí ấy, các lãnh đạo PVN/PTSC ký kết hợp đồng xây dựng nhà máy Nhiệt điện Long Phú 1 thì lại chưa hề hấn gì? Điều này có được cho là công bằng với các lãnh đạo PVC hay không, vì sao lại có sự bất công đó?

 

Bài 2: Thiệt hại trong các dự án Nhiệt điện Thái Bình 2 ít hơn thì lã nh đạo bị đi tùi, trong khi đó Long Phú 1 thiệt hại lớn hơn lại còn chưa biết khi nào xong lại chưa bị xử lý. Liệu có công bằng với Trịnh Xuân Thanh và lãnh đạo các doanh nghiệp?

Trong bối cảnh phát triển các dự án nhiệt điện lớn của quốc gia như Nhiệt điện Thái Bình 2 và Nhiệt điện Long Phú 1 để đóng góp phát triển kinh tế, chúng ta không thể không nhìn nhận những sai phạm nghiêm trọng trong việc chỉ định thầu, gây ra thất thoát lớn cho ngân sách nhà nước và kéo dài tiến độ thi công, ảnh hưởng trực tiếp đến mục tiêu phát triển năng lượng của đất nước, cũng như làm chậm mục tiêu tăng trưởng kinh tế.
Tuy nhiên, một câu hỏi lớn được đặt ra là liệu có bất công khi lãnh đạo PVC như Trịnh Xuân Thanh phải chịu trách nhiệm hình sự, trong khi lãnh đạo PTSC lại không bị xử lý dù cũng có những sai phạm nghiêm trọng tương tự?

Dấu ấn của ông Đinh La Thăng và quyết định chỉ định thầu trong các dự án lớn: Ông Đinh La Thăng, với tư cách là Chủ tịch HĐTV của PVN khi ấy, đã ra quyết định chỉ định thầu các dự án nhiệt điện Thái Bình 2 và Long Phú 1 một cách quyết liệt. Ông cố gắng thúc đẩy các quyết định này với mục tiêu thúc đẩy phát triển năng lượng quốc gia, nhưng thực tế đã để lại nhiều sai sót nghiêm trọng và lãng phí tài sản nhà nước. Dù quyết định của ông Thăng là hướng đến phát triển các dự án trọng điểm quốc gia, tích lũy kinh nghiệm cho nhà thầu, tránh mua hàng rẻ giá thấp nhưng việc giao sai người và lựa chọn nhà thầu không đủ năng lực đã dẫn đến những hậu quả nghiêm trọng. Ông Thăng đã phải trả giá cho những quyết định này bằng sinh mạng chính trị của mình, nhưng những bài học từ các quyết định đó lại vô cùng đắt giá đối với công tác quản lý đầu tư công và cách sử dụng cán bộ trong ngành Dầu khí mà những ngày qua ông Tô Lâm nói đến việc mất người có lẽ cũng đau cho ông Thăng.

So sánh hai nhà máy nhiệt điện Thái Bình 2 và Long Phú 1:
Nhiệt điện Thái Bình 2:
Công suất: 1.200 MW (2x600 MW).
Chủ đầu tư: Tập đoàn Dầu khí Việt Nam (PVN).
Nhà thầu EPC: Tổng công ty Cổ phần Xây lắp Dầu khí Việt Nam (PVC).
Lỗi chính:
Chỉ định thầu sai quy định, giao cho PVC, một nhà thầu không đủ năng lực.
Tạm ứng vốn sai mục đích, gây thất thoát hàng nghìn tỷ đồng.
Thi công chậm tiến độ, đội vốn lớn.
Các sai phạm liên quan đến việc nghiệm thu, thanh toán và quản lý hợp đồng.
Hậu quả: Dự án Thái Bình 2 đã vấp phải rất nhiều vấn đề nghiêm trọng trong quá trình thi công, từ việc thiếu năng lực của PVC đến việc sử dụng vốn sai mục đích và thi công chậm tiến độ. Những sai sót này đã dẫn đến việc Trịnh Xuân Thanh cùng các lãnh đạo PVC phải chịu trách nhiệm, với các hình phạt nghiêm khắc về hình sự.
Nhiệt điện Long Phú 1:
Công suất: 1.200 MW (2x600 MW).
Chủ đầu tư: Tập đoàn Dầu khí Việt Nam (PVN).
Nhà thầu EPC: Ban đầu, PVN chỉ định thầu cho PTSC qua hợp đồng số 12085. Tuy nhiên, sau đó PVN chấm dứt hợp đồng này vào năm 2013 và tiếp tục chỉ định thầu cho liên danh 3 nhà thầu: Power Machines (Nga), BTG Holding, và PTSC thông qua hợp đồng 9488. Tuy nhiên sau đó BTG rút lui, nhưng chủ đầu tư không tổ chức đấu thầu hay đề xuất ra quyết định chỉ định thầu lại mà PVN lại ký phụ lục điều chỉnh số 9226 để PM tiếp quản phần việc của BTG và liên danh tổng thầu tiếp tục thi công nhà máy nhiệt điện này.
Lỗi chính:
Chỉ định thầu không đúng quy định.

Việc thay đổi nhà thầu liên tục dẫn đến sự thiếu ổn định gây thất thoát lớn trong việc thực hiện dự án.
Tình trạng đội vốn và chậm tiến độ vẫn tiếp diễn, dù PTSC đã không đủ năng lực để hoàn thành dự án nhưng cho đến hiện tại nhà thầu vẫn đang xem xét sửa hồ sơ thầu để chỉ định nhiều hạng mục công việc cho PTSC.
Hậu quả: Dù PTSC không có kinh nghiệm trong việc xây dựng nhà máy nhiệt điện, PVN vẫn chỉ định thầu cho đơn vị này, dẫn đến các vấn đề nghiêm trọng về chất lượng thi công và tiến độ. Việc PTSC không bị xử lý như PVC đã gây ra sự bất công trong việc xử lý trách nhiệm, vì cả hai dự án đều có sai sót nghiêm trọng và thất thoát ngân sách lớn.

Hãy học từ thất bại để hướng tới tương lai tốt đẹp hơn: Thực tế Việt Nam đã xây dựng nhiều nhà máy nhiệt điện than, nếu áp nguyên những gói thầu trước đó sang cho những nhà máy phát điện mới có thể rút gọn thời gian đàm phán hợp đồng, nhà thầu thi công nhanh hơn, chủ đầu tư có thể đã thu lợi nhanh hơn và có nhà máy điện sớm hơn phục vụ phát triển đất nước. Nhưng với năng lực yếu kém của mình thì từ một dự án trị giá vài chục nghìn tỷ đồng đã tăng lên gần gấp đôi, Nhà máy Nhiệt điện Long Phú 1 không những không hoàn thành mà còn để lại thiệt hại khổng lồ cả về kinh tế lẫn danh tiếng quốc gia. Khoản phạt hơn 400 triệu USD mà Tòa trọng tài Singapore tuyên yêu cầu PVN phải trả cho Power Machine là con số kỷ lục đối với một doanh nghiệp nhà nước trong tranh chấp quốc tế. Thêm vào đó, hàng trăm container vật tư và thiết bị hiện đang nằm chờ, bị xuống cấp, chi phí bảo quản phát sinh liên tục suốt 6 năm qua.

Trách nhiệm lớn nhất thuộc về năng lực điều hành yếu kém, thiếu kinh nghiệm quốc tế, và quan trọng nhất là thiếu sự chủ động, thiếu năng lực linh hoạt trong khủng hoảng. Điều này thể hiện rõ trong giai đoạn năm 2018–2019, khi Power Machines bị cấm vận không thể thực hiện nhiệm vụ theo hợp đồng, họ mong muốn đàm phán để bàn giao những nhà thầu cho PVN tiếp quan và thực thi hợp đồng, PVN hoàn toàn có thể tiếp nhận phần còn lại và giảm thiểu thiệt hại, thậm chí còn có thể đòi một phần đền bù hợp đồng từ PM.

Tuy nhiên, năng lực đàm phán và khả năng tiếp cận các kênh thương lượng thấp, không huy động hỗ trợ pháp lý quốc tế kịp thời, đã khiến PVN tự đưa mình vào thế bị động, rồi cuối cùng phải chấp nhận phán quyết bất lợi mà không thể đảo ngược.

Dấu ấn và mục tiêu tích cực của ông Đinh La Thăng, cách Ông ra quyết định chỉ định thầu xây dựng dựng hai nhà máy nhiệt điện Thái Bình 2 và Long Phú 1 rất quyết liệt, giờ để lại hậu quả là những khoản nợ, những khó khăn khôn lường. Là những dự án trọng điểm quốc gia, quyết định gây thất thoát lãng phí đã khiến ông Thăng phải trả giá bằng sinh mạng chính trị của mình cho dự án nhà máy nhiệt điện Thái Bình 2, qua đó để lại nhiều bài học đắt giá về quản lý đầu tư công và cách sử dụng cán bộ. Điều này cũng hợp với câu nói của ông Tô Lâm trongh thời gian qua. Trách nhiệm và bất công trong xử lý.

Mặc dù ông Đinh La Thăng và các lãnh đạo PVC đã phải chịu trách nhiệm chính trị và hình sự về quyết định chỉ định thầu cho PVC trong dự án Thái Bình 2, việc lãnh đạo PTSC không bị xử lý trong khi họ cũng có những sai phạm, thậm chí các sai phạm này còn nghiêm trọng hơn trong dự án Long Phú 1 là một câu hỏi lớn về công lý và sự công bằng. Thực tế, trong cả hai dự án, các nhà thầu được chỉ định đều không đủ năng lực để thực hiện công trình, dẫn đến thiệt hại lớn về tài chính và chậm tiến độ nhưng một bên bị xử lý, một bên không.

Điều này khiến dư luận đặt câu hỏi về việc có bất công trong việc xử lý trách nhiệm của các lãnh đạo khác nhau trong PVN. Nếu lãnh đạo PVN/PVC phải chịu trách nhiệm về thất thoát và sai phạm, thì lãnh đạo PVN/PTSC cũng nên chịu trách nhiệm tương tự, đặc biệt khi họ cũng để lại hậu quả còn tệ hại hơn, một đống sắt vụn ngổn ngang, chi phí thêm bao nhiêu nữa thì nó mới phát điện được đây?

 

Bài 3: Đấu thầu dở, chỉ định thầu liệu có tốt hơn khi chính nhà thầu chai lỳ, ban quản lý thiếu năng lực?

Rà soát lại hai dự án để thấy các vấn đề tồn đọng, rút ra bài học, sửa luật đấu thầu để chống lãng phí là việc nên làm, tuy nhiên nếu tăng cường chỉ định thầu mà lại chỉ định vào những nhà thầu yếu kém và thiếu năng lực như các dự án Nhiệt điện này thì sao?

Cả hai dự án đều vướng vào những sai phạm nghiêm trọng, gây thất thoát lớn cho ngân sách nhà nước và có tiến độ thi công rất chậm vừa bị đội vốn vừa ảnh hưởng đến mục tiêu cung cấp điện cho mục tiêu công nghiệp hóa hiện đại hóa, của đất nước, làm hỏng con đường giúp Việt Nam vươn mình.

Cả hai nhà máy đều có thông số kỹ thuật hoàn toàn tương tự, lỗi chỉ định và thất thoát tại hai nhà máy nhiệt điện cũng giống nhau. Lỗi nào mà ông Thăng và lãnh đạo PVC mắc phải đều có ở các các dự án nhà máy nhiệt điện Long Phú:Thứ nhất là nhà máy Nhiệt điện Thái Bình 2:
Công suất: 1.200 MW (2x600 MW).
Chủ đầu tư: Tập đoàn Dầu khí Việt Nam (PVN).
Nhà thầu EPC: Tổng công ty Cổ phần Xây lắp Dầu khí Việt Nam (PVC).
Các lỗi chính đã bị chỉ ra và ông Thăng và ông Thanh đã bị xử lý:
Chỉ định thầu sai quy định, giao cho PVC, một nhà thầu không đủ năng lực.
Tạm ứng vốn sai mục đích, gây thất thoát hàng nghìn tỷ đồng.
Thi công chậm tiến độ, đội vốn lớn.
Các sai phạm liên quan đến việc nghiệm thu, thanh toán, và quản lý hợp đồng.
Thứ hai là nhà máy Nhiệt điện Long Phú 1:
Công suất: 1.200 MW (2x600 MW).
Chủ đầu tư: Tập đoàn Dầu khí Việt Nam (PVN).

Nhà thầu EPC: Ban đầu Tập đoàn Dầu khí (PVN) chỉ định thầu cho Tổng Công ty Cổ phần Dịch vụ Kỹ thuật Dầu khí Việt Nam (PTSC) bằng hợp đồng số 12085, Để thực hiện dự án, ngày 11/6/2010, Thủ tướng Chính phủ đã có văn bản số 978/TTg-KTN về danh mục các dự án chỉ định thầu trong năm 2010 của PVN, theo đó, Thủ tướng Chính phủ đồng ý về nguyên tắc việc chỉ định thầu NMNĐ Long Phú 1.

Thực hiện chỉ đạo của Chính phủ, PVN đã tiến hành tìm kiếm và chọn ra đơn vị đủ năng lực và uy tín cho vị chí tổng thầu dự án. Sau 6 tháng chuẩn bị, trên cơ sở phương án thực hiện gói thầu EPC do PTSC đệ trình đã được PVN đánh giá đáp ứng nhu cầu của dự án cũng như chỉ đạo của Chính phủ khi đồng ý cho phép PVN chỉ định thầu, tại công văn số 10941/DKVN-HĐTV ngày 2/12/2010, PVN đã báo cáo Chính phủ về việc xin phê duyệt phương án nhà thầu thực hiện gói thầu EPC dự án NMNĐ Long Phú và được Thủ tướng Chính phủ chấp thuận.

Việc định hướng PTSC làm tổng thầu EPC cho NMNĐ Long Phú 1 nhằm mục đích từng bước nâng cao năng lực cạnh tranh, phát triển ngành cơ khí trong nước và phát triển mô hình tổng thầu cho các đơn vị trong ngành để tham gia thực hiện các dự án trong và ngoài ngành theo chiến lược phát triển của ngành Dầu khí đã được Thủ tướng chấp thuận. PVN đã quán triệt chủ trương “Người Việt Nam ưu tiên dùng hàng Việt Nam” của Bộ Chính trị tại thông báo số 246/TB-TW (ngày 31/7/2009) cũng như Chỉ thị số 494/CP-TTg (ngày 20/4/2010) của Thủ tướng Chính phủ về việc sử dụng vật tư, hàng hóa sản phẩm trong nước trong công tác đấu thầu các dự án đầu tư sử dụng vốn Nhà nước.

PTSC đã và đang cung cấp các dịch vụ kỹ thuật chất lượng cao cho ngành công nghiệp dầu khí ở trong và ngoài nước. PTSC đã và đang tham gia với tư cách tổng thầu EPC/EPIC/EPCI nhiều công trình và dự án lớn trên bờ cũng như ngoài khơi, trong và ngoài ngành Dầu khí: Thiết kế, mua sắm, chế tạo, tổ hợp, lắp dựng, tiền chạy thử, hạ thuỷ, vận chuyển, lắp đặt và chạy thử các giàn khoan (Tam Đảo 03, Biển Đông, Sư Tử Trắng, Tê Giác Trắng, Chim Sáo, Sư Tử Đen, Lan Tây); Đóng mới kho nổi FSO5, Khối thượng tầng SDA, Tháp đuốc Sư Tử Vàng; Cung cấp dịch vụ vận hành & bảo dưỡng (O&M) cho Nhà máy Lọc dầu Dung Quất; Mua sắm vật tư chính và thi công, tiền chạy thử khối thượng tầng giàn công nghệ trung tâm HEERA (HRD) cho chủ đầu tư ONGC (Tập đoàn Dầu khí Ấn Độ)… Tuy nhiên PTSC chưa làm nhà máy nhiệt điện bao giờ. Sau gần 3 năm PTSC không thành công thì PVN chấm dứt hợp đồng năm 201, nhưng lại tiếp tục chỉ định thầu cho liên danh 3 nhà thầu Power Machines (Nga), BTG Holding, và Tổng công ty Cổ phần Dịch vụ Kỹ thuật Dầu khí Việt Nam (PTSC) và ký kết hợp đồng số 9488, sau đó BTG rút lui và PVN tiếp tục ký phụ lục điều chỉnh số 9226 để PM tiếp quản phần việc của BTG.

Tại dự án nhà máy Nhiệt điện Long Phú 1 có PTSC các lỗi chính giống với hợp đồng xây dựng nhà máy Nhiệt điện Thái Bình 2 nhưng chưa ai bị xử lý:

Lỗi thứ nhất là: PVN chỉ định thầu cho PVC tại nhà máy nhiệt điện Thái Bình 2 là “cố ý làm trái các quy định của quản lý nhà nước về quản lý kinh tế gây hậu quả nghiêm trọng”, lỗi này cũng có ở Long Phú khi PVN chỉ định thầu cho PTSC. Cùng 1 thời kỳ, cùng PVN chỉ định thầu, thậm chí PVN còn nhiều lần chỉ định thầu cho PTSC thông qua các hợp đồng 12085 thất thoát hàng chục triệu USD, và hợp đồng 9488 và phụ lục 9226 thất thoát hàng trăm triệu USD. Đặc biệt tại hợp đồng 9226 và phụ lục hợp đồng 9488 sau này không chỉ gây thất thoát lãng phí lớn hơn rất nhiều.

Lỗi thứ hai là: Quản lý yếu kém khiến xảy ra tình trạng chậm tiến độ nghiêm trọng, kéo dài nhiều năm làm chi phí phát sinh tăng rất lớn, công trình bị đội vốn đầu tư lớn, gây thất thoát hàng nghìn tỷ đồng.

Lỗi thứ ba là: PVN mà cụ thể là Ban quản lý dự án nhiện điện Long Phú đã chậm tiến hành các thủ tục thanh toán cho nhà thầu thậm chí dẫn đến vi phạm hợp đồng và bị PM kiện thua cuộc và phải đền bù hợp đồng do lỗi này.
Lỗi thứ tư là: Ban quản lý dự án nhiệt điện Long phú của PVN thua kiện PM vì lỗi chậm thanh toán nhưng lại báo cáo thiếu trung thực khi tuyên bố là do PM bị cấm vận không thực hiện hợp đồng để dấu lỗi cá nhân gây thiệt hại cho nhà nước.

Theo các thông tin mà PVN mong muốn dấu đi thì số tiền thất thoát tại dự án Long Phú 1 thậm chí lớn hơn so với Thái Bình 2 rất nhiều (khoảng trên 10.000 tỷ đồng). Tuy nhiên, tại Thái Bình 2 thì những cá nhân của PVC đã chịu trách nhiệm trước pháp luật, còn những lãnh đạo của PTSC và PVN giai đoạn này lại được đề bạt lên chức, thậm chí có người còn được quy hoạch vào Trung ương Đảng. Pháp luật cần có sự minh bạch công khai và công bằng, đặc biệt trong việc xử lý các sai phạm.

Tuy nhiên vẫn ban quản lý đó lại đang tiến hành sửa hồ sơ thầu để chỉ định thầu một số hạng mục cho PTSC thi công, liệu có hoàn thành hay tiếp tục lãng phí tài sản nhà nước và tạo cho đống sắt vụn to hơn?
Những cá nhân sai phạm tại dự án Ban quản lý dự án nhà máy n hiệt điện Long Phú 1 cần phải được xử lý để đảm bảo tính nghiêm minh của pháp luật và bảo vệ tài sản nhà nước, đồng thời cũng cần minh bạch để PVN phát triển hơn là che đậy sai phạm để bảo vệ cá nhân khiến PVN lún sâu vào khó khăn.

 

Bài 4: Năng lực yếu kém PTSC và Ban quản lý dự án nhà máy nhiệt điện Long phú của PVN gây thất thoát hàng chục triệu USD tại hợp đồng 12085 xây dựng nhà máy nhiệt điện Long Phú 1 ai chịu trách nhiệm?

Năng lực yếu kém của PTSC gây thất thoát hàng chục triệu USD tại Hợp đồng 12085 xây dựng Nhà máy Nhiệt điện Long Phú 1 – Ai chịu trách nhiệm?

1. Bối cảnh ký kết Hợp đồng số 12085
Vào ngày 28/12/2010, Tập đoàn Dầu khí Việt Nam (PVN) đã ký Hợp đồng số 12085 với Tổng Công ty Cổ phần Dịch vụ Kỹ thuật Dầu khí Việt Nam (PTSC) để thực hiện gói thầu EPC (Thiết kế, Cung cấp thiết bị và Xây lắp) cho Dự án Nhà máy Nhiệt điện Long Phú 1, có tổng giá trị lên đến 1,2 tỷ USD. Điều đáng chú ý là tại thời điểm ký kết, dự án vẫn chưa có thiết kế tổng thể và dự toán chi tiết công trình.

Năng lực thực tế của PTSC, mặc dù là một đơn vị thành viên của PVN nhưng PTSC chưa từng có kinh nghiệm làm tổng thầu EPC cho các dự án nhà máy nhiệt điện than. Việc lựa chọn PTSC làm tổng thầu EPC đã vấp phải nhiều chỉ trích từ các cơ quan chức năng. Bộ Kế hoạch và Đầu tư đã khẳng định rằng PTSC chưa có kinh nghiệm làm tổng thầu EPC dự án nhà máy nhiệt điện than, và việc chỉ định PTSC làm tổng thầu là vội vàng và thiếu chặt chẽ.
Hơn nữa ngay trong nội bộ tại PTSC cũng tồn tại mâu thuẫn trong việc tiếp quản chỉ định thầu. Một sự mâu thuẫn đã xuất hiện giữa Tổng Giám đốc Nguyễn Hùng Dũng và Chủ tịch Hội đồng Thành viên Thái Quốc Hiệp. Ông Dũng rất hăng hái thực hiện dự án với mong muốn được ghi điểm để được cất nhắc bổ nhiệm, trong khi ông Hiệp lại muốn ổn định, an nhàn và không muốn tham gia vào những công việc khó khăn. Điều này dẫn đến bên đạp ga bên đạp thắng cũng là một nguyên nhân để làm dự án không thành công.

Hậu quả và thiệt hại: Việc PTSC thiếu kinh nghiệm và năng lực đã dẫn đến nhiều hậu quả nghiêm trọng:
Dự án gần như dẫm chân tại chỗ, tổng vốn đầu tư có thể bị nâng lên rất nhiều do trượt giá. Kể từ khi tiếp nhận chỉ định thầu năm 2010 thì sau 2,5 năm, PVN/PTSC chỉ mới sơ bộ xác định được nhà thầu cung cấp thiết bị và thu xếp tài chính cho dự án, dẫn đến nguy cơ thiếu nguồn điện khu vực phía Nam trong các năm 2015 và 2016.

Việc phân chia thiết bị chính nhà máy thành các gói thầu không hợp lý, thể hiện năng lực, kinh nghiệm của PTSC đối với việc thực hiện dự án nhiệt điện là chưa đáp ứng được yêu cầu đối với một tổng thầu EPC của một nhà máy nhiệt điện lớn.
Tuy nhiên nhiều công việc phụ trợ đã được tiến hành và chi phí thực tế đã phát sinh, mà cho đến hiện tại khả năng thu hồi vốn của cả PTSC và PVN là vô cùng khó khăn. Điều này dẫn đến PVN nhiều lần khuyên nhủ PTSC rút lui và bản thân PTSC cũng đề nghị trả lại dự án cho PVN đặc biệt là sau khi ông Hùng Dũng được bổ nhiệm làm Phó tổng giám đốc của PVN.

Lẽ ra PTSC yếu kém thì PVN có quyền chấm dứt hợp đồng và thay nhà thầu khác, nhưng đây PVN lại đàm phán chấm dứt hợp đồng, sau đó lại chỉ định thầu cho PTSC liên danh với nhà thầu khác để tiếp tục thi công.

Đề xuất thay đổi tổng thầu và phản ứng từ các bộ ngành: Để "chữa cháy" cho Tổng thầu PTSC, ngày 6/3/2013, PVN có văn bản gửi Thủ tướng Chính phủ kiến nghị được thay đổi tổng thầu EPC từ PTSC thành Liên danh tổng thầu EPC gồm PM-BTG (OJSC Power Machines và BTG Holding S.R.O) và PTSC, trong đó PM – BTG là thành viên đứng đầu liên danh. Tuy nhiên, đề xuất này đã vấp phải sự phản đối từ các bộ ngành. Bộ Tài chính yêu cầu PVN phải nêu rõ cơ sở pháp lý về việc đề xuất điều chỉnh trên, vì quy định hiện hành của pháp luật về đấu thầu không có quy định trường hợp được điều chỉnh chủ thể nhà thầu trong hợp đồng. Bộ Công Thương khẳng định việc PVN đề xuất thay đổi tổng thầu EPC từ PTSC sang liên danh giữa PTSC và PM-BTG là không có căn cứ pháp lý, chưa có tiền lệ, có thể dẫn đến sự thiếu minh bạch trong việc xác định giá trị hợp đồng, làm tăng tổng mức đầu tư trong khi dự án trên thực tế chưa được triển khai thực hiện sẽ đẩy tăng giá điện mà EVN phải mua và các hệ quả không tốt khác trong quá trình thực hiện dự án.

Tuy nhiên cuối cùng PVN vẫn bỏ qua các khuyến cáo và tiếp tục thỏa thuận chấm dứt hợp đồng cũ và chỉ định thầu cho một liên danh mới của PTSC.

Việc chỉ định PTSC làm tổng thầu EPC cho Dự án Nhà máy Nhiệt điện Long Phú 1 khi chưa có đủ năng lực và kinh nghiệm đã dẫn đến nhiều hậu quả nghiêm trọng, gây thất thoát hàng chục triệu USD (con số chính xác khoảng 14,6 triệu USD). Gia tăng mâu thuẫn nội bộ tại PTSC, cùng với sự vội vàng và thiếu chặt chẽ trong việc thực hiện thủ tục chỉ định thầu, đã góp phần vào sự thất bại của dự án. Các bộ ngành đã yêu cầu PVN và PTSC phải chịu trách nhiệm trong việc để xảy ra chậm trễ kéo dài và những thiệt hại nêu trên. Phân tích trách nhiệm cá nhân trong sai phạm Hợp đồng 12085, tuy nhiên cho đến hiện tại chưa ai phải chịu trách nhiệm.

Nếu thử phân tích chúng ta sẽ thấy trách nhiệm của lãnh đạo PVN là các ông Phùng Đình Thực – Chủ tịch Hội đồng Thành viên PVN thời điểm đó, đã ký kết Hợp đồng EPC với PTSC vào ngày 28/12/2010, chỉ vài giờ sau khi nhận được văn bản đồng ý về nguyên tắc từ Chính phủ. Việc ký kết hợp đồng khi chưa có thiết kế tổng thể và dự toán chi tiết công trình cho thấy sự vội vàng và thiếu chặt chẽ trong quá trình chỉ định thầu. Ban lãnh đạo PVN đã không thực hiện đầy đủ quy trình đánh giá năng lực nhà thầu, dẫn đến việc chọn PTSC – một đơn vị chưa có kinh nghiệm làm tổng thầu EPC cho các dự án nhà máy nhiệt điện than.

Trách nhiệm của lãnh đạo PTSC: Thứ nhất Hợp đồng số 12085 được ký kết trong khi thực tế PTSC chưa đủ năng lực do chưa từng làm nhà máy nhiệt điện bao giờ, thậm chí lúc đó dự án còn chưa có thiết kế tổng thể và dự toán chi tiết công trình, tuy nhiên hai bên vẫn tích cực thúc đẩy ký kết hợp đồng số 12085 vào ngày 28/12/2010 để xây dựng nhà máy nhiệt điện Long Phú 1 với giá trị là 1,2 tỷ USD. Ngay tại thời điểm ký kết ban lãnh đạo PTSC có sự mâu thuẫn lớn giữa ông Nguyễn Hùng Dũng là Tổng Giám đốc rất hăng hái thực hiện mong muốn được ghi điểm để được cất nhắc bổ nhiệm, còn ông Thái Quốc Hiệp – Chủ tịch hội đồng thành viên lại muốn ổn định an nhàn, đọc thơ, ăn nhậu gác tay gác chân nhân viên nữ và hưởng lạc ở vị trí công tác của mình hơn là tham gia những công việc khó.
Giai đoạn đầu thi công, ông Dũng đôn đốc thúc đẩy thực hiện hợp đồng chỉ đạo rốt ráo lấn át các khiếm khuyết của PTSC và có những kết quả nhất định. Nhưng khi Nguyễn Hùng Dũng được bổ nhiệm làm Phó Tổng giám đốc PVN, khi ấy PTSC đã không còn động lực thúc đẩy thực hiện hợp đồng, nhiều vấn đề phát sinh khi lãnh đạo không thích làm và đạp phanh. Dự án NMNĐ Long Phú 1 là dự án trọng điểm của Nhà nước có vốn đầu tư rất lớn, trong hoàn cảnh khó khăn chung của nền kinh tế thì việc thu xếp vốn phụ thuộc nhiều vào nhà thầu, đến đây những yếu kém về năng lực của PTSC đặc biệt là năng lực thu xếp vốn lộ diện. PTSC đề xuất PVN thành lập Liên danh tổng thầu để đẩy phần việc thu xếp vốn cho nhà thầu nước ngoài kỳ vọng có thể thu xếp vốn thành công. PVN nhận thấy kiến nghị của PTSC cũng như mô hình thực hiện dự án theo hình thức liên danh tổng thầu cũng giúp PVN giảm trách nhiệm nên đã kiến nghị Thủ tướng Chính phủ cho phép điều chỉnh chủ thể trong hợp đồng EPC của NMNĐ Long Phú 1, chủ thể cũ là PTSC với vai trò là Tổng thầu EPC giờ PTSC chỉ là thành Liên danh tổng thầu PM-BTG-PTSC trong đó PM-BTG là thành viên đứng đầu liên danh. Ngày 7/8/2013, Bộ Công Thương có công văn số 801/TCNL-NĐ&ĐHN chỉ đạo PVN sớm xem xét triển khai các thủ tục chỉ định Tổ hợp nhà thầu gồm PM-BTG-PTSC làm Liên danh tổng thầu EPC cho dự án. Nghị quyết số 104/NQ-CP ngày 6/9/2013 về phiên họp Chính phủ thường kỳ tháng 8/2013 đã chỉ rõ: “Chính phủ đã thống nhất thực hiện một số cơ chế, chính sách đặc thù theo đề nghị của Bộ Công Thương đối với dự án NMNĐ Long Phú 1”, theo Nghị quyết này thì Chính phủ đồng ý cho PVN thành lập liên danh Tổng thầu để giải quyết các vấn đề còn tồn đọng của dự án nhà máy nhiệt điện Long Phú. Trên cơ sở đó PVN và PTSC buộc phải chọn giải pháp ký thỏa thuận chấm dứt hợp đồng số 12085 bằng thỏa thuận số 6330/BB-DKVN vào ngày 05/09/2013 để tiến hành ký kết các hợp đồng mới thực hiện dự án này.

Hợp đồng 12085 chấm dứt, khiến hàng loạt công việc thi công phải bỏ, không sử dụng được, khả năng thu hồi vốn thấp, vì vậy thiệt hại đã xảy ra cho cả PVN và PTSC. Một trong những nguyên nhân là năng lực và tinh thần trách nhiệm của ông Thái Quốc Hiệp và ông Phan Thanh Tùng. Ông Hiệp trước khi làm Chủ tịch PTSC làm công tác kế toán trưởng của PTSC có quan hệ tốt với các tổ chức tài chính, sẽ không khó khăn nếu ông sắn tay lên làm, nhưng do không còn nhiệt huyết nên ông không làm, việc này khiến thất thoát vốn của PTSC nói riêng và PVN nói chung, rộng ra là vốn nhà nước được đánh giá lên tới hàng chục triệu USD cả PTSC và PVN vẫn chưa biết giải quyết thu hồi thế nào.

Vậy khi chấm dứt hợp đồng 12085 các bên thất thoát bao nhiêu? Những con số thất thoát này, ai là người chịu trách nhiệm? Luật quản lý và sử dụng vốn nhà nước có bị trà đạp hay không? Ông Trịnh Xuân Thanh có kêu than bất công hay không khi PVC làm tốt hơn bằng chứng là nhà máy Nhiệt điện Thái Bình 2 đã đi vào hoạt động thì Ông bị xử lý trong khi PTSC làm dở hơn thất thoát lớn hơn, và có nguy cơ tiếp tục thất thoát không biết đến bao giờ mới hoàn thành và con số thực tế sẽ là bao nhiêu? thì lãnh đạo lại được lên chức và trở thành anh hùng?

Bài 5: PTSC thiếu năng lực, hay Ban quản lý dự án nhà máy Nhiệt điện Long Phú thiếu trách nhiệm?

Ngày 28/12/2010, Tập đoàn Dầu khí Việt Nam (PVN) và Tổng công ty Cổ phần Dịch vụ Kỹ thuật Dầu khí Việt Nam (PTSC) ký Hợp đồng EPC số 12085 để xây dựng Nhà máy Nhiệt điện Long Phú 1 với giá trị 1,2 tỷ USD. Tuy nhiên, tại thời điểm ký kết, PTSC chưa từng thực hiện dự án nhà máy nhiệt điện nào, thậm chí dự án còn chưa có thiết kế tổng thể và dự toán chi tiết công trình. Sau khi nhận thấy năng lực của PTSC không đáp ứng yêu cầu, ngày 5/9/2013, PVN ban hành Thỏa thuận chấm dứt Hợp đồng số 12085. Tiếp đó, ngày 27/12/2013, PVN ký Hợp đồng EPC số 9488 với Liên danh Tổng thầu gồm Power Machines – BTG và PTSC, trong đó Power Machines là thành viên đứng đầu liên danh. Để điều chỉnh một số nội dung, ngày 30/12/2014, hai bên ký Phụ lục Hợp đồng số 9226. Theo các văn bản này, chi phí vận chuyển nội địa cho toàn bộ vật tư, thiết bị nhập khẩu của Power Machines từ cảng TP.HCM về công trường sẽ thanh toán theo kết quả chào hàng cạnh tranh được chủ đầu tư chấp thuận. Giá gói theo kế hoạch tạm tính tại thời điểm ký Hợp đồng EPC là thấp nhưng giá trúng thầu được phê duyệt lại cao lên, vượt giá gói thầu được duyệt. Tuy vậy hai bên vẫn tiếp tục tiến hành thực hiện hợp đồng.

Sự cố rơi máy biến áp xuống sông Hậu thể hiện sự vô trách nhiệm trong quản lý và điều hành. Một sự cố nghiêm trọng đã xảy ra trong quá trình thực hiện hợp đồng xây dựng nhà máy nhiệt điện Long Phú, ảnh hưởng đáng kể đến tiến độ chung của dự án đó là các cụm máy biến áp mua về để lắp đặt cho nhà máy bị rơi xuống sông Hậu. Sau khi ký hợp đồng 9488 và phụ lục 9226 thì nhà thầu PM đã tiến hành ký kết hợp đồng mua ba cụm máy biến áp, PTSC chịu trách nhiệm vận chuyển các cụm máy biến áp này về công trường phục vụ công tác lắp đặt, bao gồm vận chuyển từ nước ngoài về TP. Hồ Chí Minh và từ TP. Hồ Chí Minh đến công trường thi công.

Sau khi tiến hành thủ tục thông quan tại Sài Gòn các cụm máy biến áp được đặt trên xà lan vận chuyển đến cầu cảng neo đậu tại bến nhập thiết bị của Nhà máy Nhiệt điện Long Phú 1 tại tỉnh Sóc Trăng. Tại đây, do PTSC chằng buộc máy biến áp trên xà lan quá lỏng lẻo trong khi lại neo chặt xà lan vào bích neo quá mức nên khi nước thủy triều xuống xà lan bị nghiêng, làm cho các cụm máy biến áp bị rơi xuống sông Hậu.

Nguyên nhân thứ nhất: là sơ đồ chằng buộc không đúng kỹ thuật hoặc không đủ lực siết. PTSC có trách nhiệm tổ chức vận chuyển và lashing (neo giữ) hàng hóa trên xà lan. Nếu máy biến áp không được cố định đúng cách bằng cáp thép, hệ thống chêm, gối đỡ chống trượt, thì khi có sự thay đổi trọng tâm (do triều cường, dòng chảy, gió, rung lắc) máy sẽ dễ dàng trượt ra khỏi xà lan, và thực tế điều này đã xảy ra.

Nguyên nhân thứ 2: Là do sự tính toán sai về ảnh hưởng của thủy triều đến trạng thái cân bằng của xà lan. Tại khu vực sông Hậu, mực nước có thể thay đổi theo thủy triều 1 – 2m. Nếu xà lan bị neo vào bích cầu cảng quá chặt bằng dây ngắn, không đủ độ đàn hồi hoặc không điều chỉnh linh hoạt theo mực nước, khi thủy triều xuống, một phía xà lan bị giữ lại khiến nó nghiêng và lệch trọng tâm. Đây là kiến thức cơ bản trong vận hành vận tải thủy. PTSC đã vận hành rất nhiều căn cứ cảng từ bắc vào nam thì những lỗi như thế này xảy ra chỉ có thể giải thích do sự thiếu trách nhiệm của các cá nhân liên quan chứ không thể cho rằng họ thiếu chuyên môn.


Nguyên nhân thứ ba: Thiếu người chỉ huy và giám sát vận hành tại hiện trường: PTSC đã không bố trí đầy đủ cán bộ giám sát an toàn, cảng vụ, và chuyên gia logistics có kinh nghiệm trực tiếp chỉ đạo tại hiện trường là một lỗi tổ chức nghiêm trọng. Việc thiếu giám sát đã khiến không phát hiện được tình trạng nghiêng của xà lan từ sớm để có biện pháp ứng cứu (như nới dây neo, tạm điều chuyển hàng hóa, hoặc hút nước để cân bằng xà lan).

Nguyên nhân thứ tư: Không có phương án xử lý sự cố khẩn cấp (contingency plan): Với các thiết bị trọng yếu như máy biến áp, nhà thầu có nghĩa vụ phải lập phương án ứng phó rủi ro và báo cáo chủ đầu tư. Việc không có quy trình ứng phó, không có thiết bị cứu hộ tại chỗ là vi phạm trong công tác chuẩn bị và đánh giá rủi ro của nhà thầu. khiến cho việc xảy ra sự cố đã rất lung túng làm gia tăng thiệt hại cho các bên.

Nguyên nhân thứ năm: Sai phạm về tổ chức vận hành vận tải, PTSC là đơn vị ký hợp đồng vận chuyển, nghĩa là có trách nhiệm trực tiếp trong tổ chức phương án vận tải, thuê đơn vị trung gian (nếu có), và giám sát quá trình thực hiện.

Việc để xảy ra sự cố chứng minh rằng PTSC không tuân thủ quy chuẩn kỹ thuật trong vận chuyển hàng siêu trường siêu trọng. Tuy nhiên sau đó PTSC đã đẩy trách nhiệm của mình sang cho bên bảo hiểm cũng là một doanh nghiệp khác thuộc PVN phải đền cho PVN với giá trị lên đến 110% giá máy nhập.

Tuy nhiên với 3 máy biến áp cũ thì sự việc còn nực cười hơn khi PTSC tư vấn khai hải quan cho PVN bằng cách kê khai nhập khẩu máy biến áp chưa qua sử dụng, cần làm thủ tục nhập khẩu vào Việt Nam để thanh lý, và do là máy biến áp chưa qua sử dụng nên PVN bị Tổng cục Hải quan áp thuế là máy mới, thuế rất cao, thậm chí giá còn cao hơn nhiều lần con số thanh lý máy biến áp cũ mà PVN thu về từ thanh lý đồng thời còn bị phạt vì chậm nộp thuế.
PTSC không có chuyên môn nhưng đứng ra làm tờ khai hải quan hộ và đóng vai là đại lý Hải quan, họ đã khi mắc lỗi sẽ phải chịu trách nhiệm cho những thiệt hại của đại lý khai hải quan với PVN.

Tuy nhiên Câu hỏi đặt ra là, những sai lầm này đã xảy ra và gây thiệt hại hàng chục tỷ đồng cho chủ đầu tư, tại sao các bên liên quan không bị pháp luật xử lý? Nếu khi xử vụ án ông Đinh La Thăng cho rằng có người mua phần vốn góp của PVN vào Ocean Bank với giá còn cao hơn giá đã đầu tư thì Viện Kiểm sát cho rằng bản chất khi đó cũng vẫn là thiệt hại chỉ khác là không thiệt hại cho PVN mà thiệt hại cho toàn xã hội. Vậy việc rơi máy biến áp rõ ràng thiệt hại cho xã hội, bảo hiểm PVI là công ty con của PVN có đền cho PVN thì bản chất thiệt hại xã hội đã có. Vậy tại sao ông Thăng bị phạt còn những người làm rơi máy biến áp lại không?


Bài 6: PVN báo cáo thiếu trung thực về việc thua kiện Powermachine do lỗi vi phạm hợp đồng vì chậm thanh toán, nhưng lại loan tin là do PM tuyên bố chấm dứt hợp đồng vì bị cấm vận, con số thua kiện gần 10 nghìn tỷ đổng ai chịu?

Nhà máy Nhiệt điện Long Phú 1 – một trong những dự án trọng điểm thuộc Quy hoạch điện VII – được kỳ vọng sẽ bổ sung hơn 7,8 tỷ kWh điện/năm cho lưới điện quốc gia. Tuy nhiên, trái với kỳ vọng, dự án đã bị đình trệ hơn 15 năm qua và trở thành một trong những "điểm đen" lớn nhất trong hoạt động đầu tư của Tập đoàn Dầu khí Việt Nam (PVN). Đằng sau sự chậm tiến độ không chỉ là những khó khăn khách quan, mà còn là minh chứng cho sự hạn chế về năng lực điều hành, quản trị rủi ro quốc tế, và phản ứng thiếu chủ động của PVN.

Nguồn gốc của khủng hoảng: Trừng phạt và bất khả kháng: Dự án Long Phú 1 được giao cho PVN làm chủ đầu tư, với tổng thầu EPC là liên danh Power Machines – BTG Holding – PTSC, ký hợp đồng số 12085 năm 2010, rồi sau đó là 9488 và phụ lục 9226 từ đầu năm 2013 và 2014. Công trình này có mục tiêu đưa tổ máy đầu tiên vào vận hành từ năm 2018. Tuy nhiên, đến đầu năm 2018, tình hình chính trị quốc tế có biến động lớn: Bộ Tài chính Hoa Kỳ chính thức liệt Power Machines vào danh sách các thực thể bị trừng phạt theo Đạo luật CAATSA.

Ngày 26/1/2018, Power Machines thông báo cho PVN rằng lệnh trừng phạt của Hoa Kỳ đã làm gián đoạn nghiêm trọng quá trình triển khai hợp đồng EPC, do nhiều nhà thầu phụ và đối tác cung cấp thiết bị từ chối hợp tác. Công ty này viện dẫn Điều 19.6 của hợp đồng EPC, cho rằng đây là một sự kiện "bất khả kháng" và yêu cầu đình chỉ nghĩa vụ liên quan.

Powermachine đề xuất tất cả các hợp đồng mua sắm thiết bị đã ký kết, PVN tiếp nhận lấy vật tư thiết bị về tổ chức thi công, nhưng Ban quản lý dự án PVN không tiếp nhận và cơ hội bị bỏ lỡ: Vào đầu năm 2018, khi chưa rơi vào thế kiện tụng, Power Machines đã nhiều lần đề nghị PVN tiến hành đàm phán nhằm bàn giao lại các phần công việc còn lại, bao gồm toàn bộ vật tư, thiết bị đã sản xuất – trong đó có hàng trăm container đang nằm ở cảng và kho bãi – để PVN có thể chủ động tiếp tục thực hiện dự án bằng nguồn lực nội bộ hoặc lựa chọn đối tác khác. Đây là một đề xuất hợp lý trong bối cảnh các bên vẫn duy trì thiện chí hợp tác, nhằm hạn chế tối đa tổn thất.

Tuy nhiên, PVN đã không chấp thuận tiến hành đàm phán, mà tiến hành thu hồi bảo lãnh của nhà thầu PM đồng thời cũng không có động thái thay thế nhà thầu hoặc điều chỉnh chiến lược hợp đồng. Việc "đứng im" trong thời gian dài đã khiến dự án rơi vào trạng thái “treo”, trong khi chi phí phát sinh tăng lên từng ngày. Giờ thì nhiều nhà thầu đòi thêm tiền lưu kho lưu bãi, nhiều nhà thầu đã thanh lý hàng họ đã sản xuất, có nhà thầu còn giữ thì giao hàng nhưng không có bảo hành vì hàng sản xuất đã quá lâu.

Chấm dứt hợp đồng và vụ kiện tại SIAC: Ngày 28/11/2018, Power Machines chính thức gửi thông báo chấm dứt hợp đồng EPC với lý do bất khả kháng. Không dừng lại ở đó, ngày 10/1/2019, công ty tiếp tục gửi thông báo cảnh báo PVN vì không thanh toán các khoản đã đến hạn – cụ thể là các Yêu cầu Thanh toán (Payment Requests) chưa được thực hiện. Đến ngày 28/1/2019 và 8/2/2019, Power Machines lần lượt ban hành hai văn bản chấm dứt hợp đồng: một do bất khả kháng, một do PVN vi phạm nghĩa vụ thanh toán chậm – theo quy định tại Điều 16.2(b) trong Điều kiện hợp đồng. Tháng 8/2019, Power Machines khởi kiện PVN tại Trung tâm Trọng tài Quốc tế Singapore (SIAC), yêu cầu PVN phải bồi thường các khoản chi phí chưa thanh toán, chi phí phát sinh do chấm dứt hợp đồng và tổn thất thực tế.


Phán quyết bất lợi từ SIAC và thiệt hại khổng lồ: Ngày 30/11/2023, Hội đồng Trọng tài SIAC ra phán quyết cuối cùng. Trong đó, Hội đồng bác bỏ lập luận của Power Machines về "bất khả kháng", cho rằng điều kiện chưa đủ cơ sở để chấm dứt hợp đồng theo Điều 19.6 của hợp đồng ký kết giữa PVN và Liên danh nhà thầu. Tuy nhiên, SIAC đồng tình rằng việc Ban quản lý dự án nhiệt điện Long Phú của PVN không thực hiện nghĩa vụ thanh toán là một vi phạm nghiêm trọng, cho phép Power Machines chấm dứt hợp đồng hợp pháp theo Điều 16.2(b) của hợp đồng ký kết giữa PVN và Liên danh nhà thầu. Tức là nhà thầu chấm dứt hợp đồng do lỗi của chủ đầu tư chứ không phải lỗi khách quan hay cấm vận nào hết.

Đồng thời SIAC cho rằng do PVN là bên có lỗi nên buộc phải đền bù hợp đồng cho PM. Tổng số tiền mà PVN bị buộc phải bồi thường là 418.322.061,92 USD, bao gồm con số 307.755.346,38 USD theo khoản đền bù phải chi trả khi chấm dứt hợp đồng do lỗi của PVN; con số 110.566.715,54 USD là các khoản yêu cầu thanh toán chưa thực hiện của PM.

Tòa án Tối cao Singapore vào cuộc và hậu quả kép: Tuy nhiên sau đó PVN đã nộp đơn lên Tòa án Tối cao Singapore yêu cầu hủy bỏ phán quyết, với lý do bị vi phạm quyền được xét xử công bằng khi Hội đồng Trọng tài sử dụng lập luận mà các bên chưa được phản hồi. Tuy nhiên, Tòa án ngày 24/9/2024 chỉ chấp thuận một phần, trả lại vấn đề chấm dứt hợp đồng cho Hội đồng Trọng tài xem xét lại, chứ không hủy toàn bộ phán quyết.
Sau khi được xem xét lại, ngày 1/11/2024, SIAC tuyên bố giữ nguyên phán quyết ban đầu, khẳng định việc Power Machines chấm dứt hợp đồng là hợp lệ, và PVN vẫn phải thanh toán toàn bộ số tiền bồi thường.

Ngày 20/9/2024, Tòa án Thương mại Moscow (Nga) đã công nhận và cho thi hành phán quyết này trên lãnh thổ Liên bang Nga (xin lưu ý PVN có đầu tư khoan mỏ dầu và đang khai thác tại Nga), điều này đồng nghĩa sẽ mở đường cho việc cưỡng chế tài sản của PVN ở nước ngoài, nếu cần thiết.
Phải đền bù hơn 500 triệu USD là một con số vô cùng lớn tuy nhiên PVN lại dấu nhẹm nguyên nhân thất bại do vi phạm nghĩa vụ thanh toán là do lỗi quản lý dự án, lỗi của các cá nhân mà leo lẻo tuyên bố dự án Long Phú 1 bị châm là do PM bị cấm vận, những bài học lớn từ một thất bại đắt giá không được chia sẻ giúp cho các tập đoàn kinh tế lớn học tập rút kinh nghiệm để cùng nhau phát triển lại thể hiện sự thiếu trách nhiệm của PVN.

Trách nhiệm của những người đứng đầu PVN trong giai đoạn khủng hoảng dự án Long Phú 1 bao gồm: Trong giai đoạn 2018–2020, khi dự án Long Phú 1 đối mặt với khủng hoảng do lệnh trừng phạt của Hoa Kỳ đối với Power Machines, lãnh đạo Tập đoàn Dầu khí Việt Nam (PVN) là Ông Trần Sỹ Thanh: Chủ tịch Hội đồng Thành viên PVN từ tháng 12/2017 đến tháng 1/2020 hiện nay đang là Chủ tịch của thành phố Hà Nội. Ông Nguyễn Vũ Trường Sơn: Tổng Giám đốc PVN đến tháng 3/2019. Ông Lê Mạnh Hùng: Phó Tổng Giám đốc PVN từ năm 2017, được bổ nhiệm làm Tổng Giám đốc từ tháng 7/2019. Hiện ông Hùng đang là chủ tịch hội đồng thành viên của PVN và đang được quy hoạch là ủy viên trung ương Đảng.

Trong thời điểm Power Machines đề xuất bàn giao lại các phần công việc và thiết bị đã hoàn thành, nhằm giảm thiểu thiệt hại do lệnh trừng phạt, PVN đã không có phản hồi tích cực hoặc hành động cụ thể để tiếp nhận và tiếp tục triển khai dự án. Việc không tận dụng cơ hội này đã dẫn đến việc Power Machines chấm dứt hợp đồng và khởi kiện PVN tại Trung tâm Trọng tài Quốc tế Singapore (SIAC), kết quả là PVN bị buộc bồi thường hơn 418 triệu USD.
Trách nhiệm cá nhân của các lãnh đạo PVN trong giai đoạn này bao gồm những ai?

Thiếu quyết đoán và chậm trễ trong xử lý khủng hoảng: Không kịp thời đưa ra các quyết định chiến lược để tiếp nhận và tiếp tục triển khai dự án khi có cơ hội.
Thiếu chủ động trong đàm phán và giải quyết tranh chấp: Không tận dụng các kênh đàm phán để giải quyết tranh chấp một cách hòa bình, dẫn đến việc bị kiện và phải bồi thường lớn.

Thiếu minh bạch và trách nhiệm giải trình: Không có báo cáo kịp thời đến các cơ quan chức năng để xin chỉ đạo và hỗ trợ trong việc giải quyết khủng hoảng.
Những thiếu sót này đã góp phần trực tiếp vào thiệt hại tài chính nghiêm trọng và ảnh hưởng tiêu cực đến uy tín của PVN. Trong bối cảnh PVN là tập đoàn kinh tế nhà nước giữ vai trò then chốt trong an ninh năng lượng quốc gia, trách nhiệm cá nhân của các lãnh đạo trong việc không hoàn thành nhiệm vụ cần được xem xét một cách nghiêm túc và minh bạch, nhằm rút ra bài học và tránh lặp lại những sai lầm tương tự trong tương lai.

Liệu ông Đinh La Thăng và Trịnh Xuân Thanh (Thái Bình 2): Có bức xúc khi Ông Đinh La Thăng, nguyên Chủ tịch HĐTV PVN, bị truy tố và kết án về tội "Cố ý làm trái quy định của Nhà nước về quản lý kinh tế gây hậu quả nghiêm trọng". Ông Trịnh Xuân Thanh, nguyên Chủ tịch HĐQT PVC, bị truy tố và kết án về các tội "Cố ý làm trái quy định của Nhà nước về quản lý kinh tế gây hậu quả nghiêm trọng" và "Tham ô tài sản". Tòa án xác định rằng, ông Thăng đã có những chỉ đạo sai trái trong việc chỉ định thầu, tạm ứng vốn, và quản lý dự án, gây thiệt hại lớn cho nhà nước. Ông Thanh và các đồng phạm đã lợi dụng chức vụ, quyền hạn để tham ô, chiếm đoạt tài sản của nhà nước.

Nhưng vấn đề về Long Phú 1 vẫn còn đó mà không được giải quyết: Nó bao gồm những sai phạm nghiêm trọng và gây thất thoát lớn hơn, nhưng đến nay, chưa có vụ án hình sự nào được khởi tố liên quan đến dự án Long Phú 1. Liệu lý do có thể bao gồm sự phức tạp của dự án có liên quan đến nhà thầu nước ngoài, và việc xác định trách nhiệm của các bên liên quan gặp nhiều khó khăn. Hay do quá trình điều tra, thu thập chứng cứ còn đang được tiến hành, hoặc do những yếu tố chính trị, ngoại giao khác. Tuy nhiên việc thiếu các vụ án hình sự không đồng nghĩa với việc không có sai phạm. Tiến hành so sánh hai dự án này cho thấy những thách thức trong quản lý các dự án đầu tư công lớn, và sự cần thiết của việc tăng cường kiểm soát, giám sát, và xử lý nghiêm minh các sai phạm đảm bảo sự công bằng của pháp luật là vô cùng quan trọng.

Hiện tại PVN vẫn đang tổ chức chỉ định thầu cho PTSC một số gói thầu, điều này là vô cùng bất công khi không những họ không bị xử lý mà còn được giao thêm việc. Liệu Nhiệt điện Long Phú có hoàn thành được hay lại thêm vào đống sắt vụn to hơn? Con số thấy thoát hàng chục nghìn tỷ đồng liệu có gia tăng lên nhiều hơn hay không?